Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai vừa ban hành Quyết định số 2717/QĐ-UBND ngày25/6/2026 phê duyệt kết quả kiểm kê nguồn nước mặt nội tỉnh giai đoạn đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh. Đây là cơ sở quan trọng để địa phương quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước, đồng thời tăng cường giám sát hoạt động xả thải, bảo vệ an ninh nguồn nước trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tăng.
Theo Quyết định, kết quả kiểm kê được phê duyệt kèm các phụ lục chi tiết, phản ánh tương đối toàn diện hiện trạng nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Nội dung kiểm kê bao gồm số lượng nguồn nước mặt, chất lượng nước, tình hình khai thác sử dụng nước mặt, cũng như hoạt động xả nước thải vào nguồn nước. Trên cơ sở đó, các cơ quan chức năng có thêm dữ liệu phục vụ công tác quy hoạch, cấp phép, kiểm tra và quản lý tài nguyên nước theo quy định pháp luật.
Số liệu tổng hợp cho thấy, toàn tỉnh Gia Lai có 879 nguồn nước mặt, trong đó có 226 sông, suối, kênh, rạch và 653 hồ, ao, đầm, phá. Tổng dung tích các hồ chứa đạt 2.476,8 triệu m³. Đây là nguồn tài nguyên có ý nghĩa lớn đối với cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, phát điện và duy trì hệ sinh thái tự nhiên.
Về chất lượng nước mặt, kết quả kiểm kê ghi nhận 66 vị trí phân tích theo chỉ số chất lượng nước tổng hợp WQI. Trong đó, 38 vị trí đạt mức rất tốt, 23 vị trí đạt mức tốt và 5 vị trí ở mức trung bình. Đáng chú ý, không có vị trí nào được ghi nhận ở mức kém, ô nhiễm nặng hoặc ô nhiễm rất nặng. Một số điểm quan trắc có giá trị WQI cao như Đập Ia Rbol, Hồ thủy điện An Khê, các vị trí trên lưu vực Hà Thanh, Kôn; trong khi một số điểm có WQI trung bình cần tiếp tục được theo dõi, nhất là tại các khu vực tiếp nhận nước thải hoặc vùng hạ lưu.
Hoạt động khai thác, sử dụng nước mặt trên địa bàn tỉnh cũng được thống kê khá chi tiết. Toàn tỉnh có 654 công trình khai thác, sử dụng nước mặt, gồm 406 hồ chứa, 92 đập dâng, 87 trạm bơm, 2 cống, 25 nhà máy nước và 42 hồ chứa thủy điện. Lượng nước khai thác cho tưới đạt 298 m³/giây; công suất phát điện đạt 249.375 kW. Ngoài ra, lượng nước khai thác cho kinh doanh dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp là 26.150 m³/ngày, trong khi khai thác phục vụ sinh hoạt đạt 62.371 m³/ngày.
Đối với hoạt động xả nước thải vào nguồn nước, kết quả kiểm kê xác định 155 công trình, cơ sở xả thải. Trong đó có 56 cơ sở công nghiệp, 43 nguồn xả sinh hoạt, 31 cơ sở y tế và 25 cơ sở chăn nuôi. Tổng lượng nước thải khoảng 52.437,7 m³/ngày; lớn nhất là nước thải sinh hoạt với 30.090,3 m³/ngày, tiếp đến là công nghiệp 18.062,3 m³/ngày, y tế 2.746 m³/ngày và chăn nuôi 1.539 m³/ngày. Những con số này cho thấy yêu cầu cấp thiết trong việc kiểm soát nguồn thải, nhất là tại các đô thị, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất và khu dân cư tập trung.
Việc phê duyệt kết quả kiểm kê nguồn nước mặt nội tỉnh đến năm 2025 không chỉ là bước hoàn thiện cơ sở dữ liệu tài nguyên nước của Gia Lai, mà còn là nền tảng để tỉnh chủ động hơn trong bảo vệ, phân bổ và sử dụng bền vững nguồn nước trong thời gian tới.
Số liệu tổng hợp cho thấy, toàn tỉnh Gia Lai có 879 nguồn nước mặt, trong đó có 226 sông, suối, kênh, rạch và 653 hồ, ao, đầm, phá. Tổng dung tích các hồ chứa đạt 2.476,8 triệu m³. Đây là nguồn tài nguyên có ý nghĩa lớn đối với cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, phát điện và duy trì hệ sinh thái tự nhiên.
Về chất lượng nước mặt, kết quả kiểm kê ghi nhận 66 vị trí phân tích theo chỉ số chất lượng nước tổng hợp WQI. Trong đó, 38 vị trí đạt mức rất tốt, 23 vị trí đạt mức tốt và 5 vị trí ở mức trung bình. Đáng chú ý, không có vị trí nào được ghi nhận ở mức kém, ô nhiễm nặng hoặc ô nhiễm rất nặng. Một số điểm quan trắc có giá trị WQI cao như Đập Ia Rbol, Hồ thủy điện An Khê, các vị trí trên lưu vực Hà Thanh, Kôn; trong khi một số điểm có WQI trung bình cần tiếp tục được theo dõi, nhất là tại các khu vực tiếp nhận nước thải hoặc vùng hạ lưu.
Hoạt động khai thác, sử dụng nước mặt trên địa bàn tỉnh cũng được thống kê khá chi tiết. Toàn tỉnh có 654 công trình khai thác, sử dụng nước mặt, gồm 406 hồ chứa, 92 đập dâng, 87 trạm bơm, 2 cống, 25 nhà máy nước và 42 hồ chứa thủy điện. Lượng nước khai thác cho tưới đạt 298 m³/giây; công suất phát điện đạt 249.375 kW. Ngoài ra, lượng nước khai thác cho kinh doanh dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp là 26.150 m³/ngày, trong khi khai thác phục vụ sinh hoạt đạt 62.371 m³/ngày.
Đối với hoạt động xả nước thải vào nguồn nước, kết quả kiểm kê xác định 155 công trình, cơ sở xả thải. Trong đó có 56 cơ sở công nghiệp, 43 nguồn xả sinh hoạt, 31 cơ sở y tế và 25 cơ sở chăn nuôi. Tổng lượng nước thải khoảng 52.437,7 m³/ngày; lớn nhất là nước thải sinh hoạt với 30.090,3 m³/ngày, tiếp đến là công nghiệp 18.062,3 m³/ngày, y tế 2.746 m³/ngày và chăn nuôi 1.539 m³/ngày. Những con số này cho thấy yêu cầu cấp thiết trong việc kiểm soát nguồn thải, nhất là tại các đô thị, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất và khu dân cư tập trung.
Việc phê duyệt kết quả kiểm kê nguồn nước mặt nội tỉnh đến năm 2025 không chỉ là bước hoàn thiện cơ sở dữ liệu tài nguyên nước của Gia Lai, mà còn là nền tảng để tỉnh chủ động hơn trong bảo vệ, phân bổ và sử dụng bền vững nguồn nước trong thời gian tới.