Chiều ngày 07/9/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Họp thẩm định Báo cáo đề xuất cấp Giấy phép môi trường Dự án Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt Long Mỹ sử dụng công nghệ đốt rác phát điện. Tham dự cuộc họp có sự tham gia của Tiến sĩ Nguyễn Thành Lam - Phòng Quản lý chất thải, Cục Môi trường, cùng sự tham gia đầy đủ của các nhà khoa học, chuyên gia hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực môi trường và các sở, ngành và các xã, phường thuộc phạm vi thu gom, xử lý của Dự án; đặc biệt, Sở Nông nghiệp và Môi trường còn mời đại diện Chi cục Bảo vệ môi trường thành phố Huế - là đơn vị quản lý, giám sát vận hành Nhà máy đốt rác phát điện có quy mô tương tự.
SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG TỔ CHỨC HỌP THẨM ĐỊNH BÁO CÁO ĐỀ XUẤT CẤP GIẤY PHÉP MÔI TRƯỜNG DỰ ÁN NHÀ MÁY XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT LONG MỸ SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ ĐỐT RÁC PHÁT ĐIỆN
 
Ảnh: Cuộc họp có sự tham gia đầy đủ của các chuyên gia, nhà khoa học, các sở ngành và địa phương trong tỉnh
Ảnh: Cuộc họp có sự tham gia đầy đủ của các chuyên gia, nhà khoa học, các sở ngành và địa phương trong tỉnh
Dự án có quy mô khoảng 10ha tại ô A5 và ô A6 thuộc Khu xử lý chất thải rắn Long Mỹ, phường Quy Nhơn Tây, tỉnh Gia Lai; công suất xử lý 500 tấn rác thải sinh hoạt mỗi ngày đêm và công suất phát điện 15 MW. Dự án có phạm vi vùng thu gom bao gồm 15 xã, phường (Quy Nhơn, Quy Nhơn Đông, Quy Nhơn Tây, Quy Nhơn Nam, Quy Nhơn Bắc, An Nhơn, Bình Định, An Nhơn Đông, An Nhơn Bắc, An Nhơn Nam, Tuy Phước, Tuy Phước Đông, Tuy Phước Tây, Tuy Phước Bắc và xã Canh Vinh).
Về lâu dài, sẽ gia tăng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt dựa trên nhu cầu thực tế và mở rộng phạm vi phục vụ theo Kế hoạch số 106/KH-UBND ngày 28/10/2025 Kế hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030; Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Đây không chỉ là một dự án hạ tầng môi trường quy mô lớn mà còn là công trình mang tính chiến lược, khẳng định quyết tâm của tỉnh Gia lai trong ưu tiên xã hội hoá các dự án xử lý môi trường, hiện thực hóa chủ trương chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bền vững và thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng để dự án bảo đảm tính khả thi và an toàn môi trường, hồ sơ cần tiếp tục được hoàn thiện ở nhiều nội dung.
Phải chứng minh công nghệ phù hợp với rác thực tế, đảm bảo hiệu quả phát điện
Một trong những điều kiện quyết định tính khả thi của dự án là nguồn rác đầu vào ổn định. Nhà đầu tư cần tính toán các kịch bản thiếu rác hoặc lượng rác vượt công suất thiết kế. Với mục tiêu phát điện 15 MW, hồ sơ cũng cần làm rõ sản lượng điện thực tế, điện tự dùng và sản lượng có thể phát lên lưới.
Bên cạnh đó, theo các chuyên gia, vấn đề trước hết là phải làm rõ sự phù hợp của công nghệ đốt với đặc tính rác tại khu vực. Nhà đầu tư cần bổ sung số liệu khảo sát về độ ẩm, nhiệt trị, thành phần hữu cơ, chất trơ và sự biến động của rác theo mùa. Trên cơ sở đó, tính toán khả năng vận hành ổn định của lò đốt, nhu cầu sử dụng nhiên liệu hỗ trợ và làm rõ trong hồ sơ.
Hiệu quả phát điện phải được tính toán trên cơ sở đặc tính rác thực tế, qua đó đánh giá đúng hiệu quả kinh tế của dự án.
Kiểm soát khí thải, tro xỉ là khâu then chốt
Đối với nhà máy đốt rác phát điện, kiểm soát khí thải và quản lý tro xỉ, trò bay là những vấn đề được các chuyên gia đặc biệt quan tâm. Tại cuộc họp, các thành viên Hội đồng thẩm định đề nghị Chủ Dự án làm rõ dây chuyền xử lý khí thải, khả năng kiểm soát bụi, NOx, CO, khí axit và các chất ô nhiễm đặc trưng trong quá trình đốt, nhất là đioxin/furan.
Giảng viên Nguyễn Đức Quyền - Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, để đánh giá chính xác hiệu quả xử lý khí thải, hồ sơ cần làm rõ tỷ lệ chất thải rắn được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho lò đốt. Từ đặc tính và tỷ lệ rác đầu vào, cần xây dựng các kịch bản đại diện để tính toán, làm rõ các số liệu liên quan đến lưu lượng khói thải và nồng độ các chất ô nhiễm trong khí thải.
Theo chuyên gia, việc tính toán này cần gắn với thành phần, tính chất rác thực tế và chế độ vận hành của lò đốt, từ đó làm rõ khả năng đáp ứng của hệ thống xử lý khí thải trong các điều kiện vận hành khác nhau.
Bên cạnh đó, phương án kiểm soát khí thải phải tính cả các tình huống khởi động, dừng lò, mất điện hoặc sự cố hệ thống xử lý khí thải. Hệ thống quan trắc khí thải tự động, liên tục cần được thiết kế đồng bộ, có khả năng lưu trữ, truyền dữ liệu và cảnh báo kịp thời khi các thông số có dấu hiệu bất thường, vượt quy chuẩn.
Về quản lý tro xỉ, tro bay phát sinh từ quá trình đốt, Tiến sĩ Nguyễn Thành Lam - Phòng Quản lý chất thải, Cục Môi trường đề nghị chủ đầu tư tiếp tục làm rõ phương án tái chế, sử dụng tro xỉ phát sinh từ quá trình đốt. Đặc biệt, cần phân định tro bay để xác định đúng loại chất thải rắn công nghiệp thông thường hay chất thải nguy hại để áp dụng biện pháp quản lý phù hợp theo quy định.
Đối với tro bay sau hóa rắn, chuyên gia lưu ý cần bổ sung phương án bảo dưỡng tro bay với thời gian tối thiểu 2 tuần trước khi thực hiện các bước quản lý tiếp theo. Đây là nội dung cần được làm rõ nhằm kiểm soát nguy cơ phát sinh ô nhiễm thứ cấp trong quá trình quản lý tro bay.
Kinh nghiệm thực tế từ Nhà máy điện rác Phú Sơn
Một nội dung khác được các chuyên gia lưu ý là khả năng thu gom, xử lý nước rỉ rác - dòng chất thải phát sinh trực tiếp từ quá trình tiếp nhận và lưu chứa rác thải. Với công suất 500 tấn rác/ngày, các chuyên gia cũng yêu cầu làm rõ phương án thu gom, lưu chứa và xử lý nước rỉ rác trong cả mùa mưa và mùa khô. Khu vực tiếp nhận rác cần được kiểm soát kín, hạn chế phát tán mùi. Việc đánh giá tác động mùi cần tính đến điều kiện khí tượng và khu dân cư, công trình nhạy cảm xung quanh dự án.
Chia sẻ kinh nghiệm từ thực tế vận hành Nhà máy điện rác Phú Sơn, thành phố Huế, Thạc sĩ Lý Thành Trung - Phó Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường thành phố Huế cho biết, với công suất xử lý 600 tấn rác/ngày, lượng nước rỉ rác phát sinh tại nhà máy trung bình khoảng 73 m³/ngày, tương đương khoảng 12,3% khối lượng rác đầu vào; vào mùa mưa, lượng phát sinh lớn nhất khoảng 105 m³/ngày. Từ thực tế này, ông Lý Thành Trung đề nghị dự án Long Mỹ tiếp tục rà soát, đối chiếu lượng nước rỉ rác dự kiến phát sinh với công suất hệ thống xử lý nước thải mà dự án đề xuất, qua đó bảo đảm hệ thống được tính toán phù hợp với điều kiện vận hành thực tế.
Đặc biệt, đại diện Chi cục Bảo vệ môi trường thành phố Huế lưu ý cần bố trí công trình xử lý khí thải trong trường hợp lò đốt dừng vận hành do sự cố hoặc dừng để bảo trì, bảo dưỡng định kỳ hàng năm. Đây là nguồn phát sinh mùi hôi lớn khi nhà máy không có hoạt động đốt để hút khí thải phát sinh vào lò khi duy trì áp suất âm.
Ảnh: Mô phỏng 3D toàn cảnh Dự án Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt Long Mỹ sử dụng công nghệ đốt rác phát điện
Ảnh: Mô phỏng 3D toàn cảnh Dự án Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt Long Mỹ sử dụng công nghệ đốt rác phát điện

Hoàn thiện hồ sơ theo hướng an toàn, hiệu quả và phù hợp thực tế

Các ý kiến tại cuộc họp cho thấy, yêu cầu đối với Dự án Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt Long Mỹ không chỉ dừng ở việc xử lý 500 tấn rác mỗi ngày hay tạo ra 15 MW điện. Quan trọng hơn là toàn bộ quá trình từ tiếp nhận rác, vận hành lò đốt, xử lý khí thải, quản lý tro xỉ, tro bay đến xử lý nước rỉ rác phải được kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm an toàn môi trường và hạn chế tối đa nguy cơ phát sinh ô nhiễm thứ cấp.
Trên cơ sở các ý kiến của Hội đồng thẩm định, các nhà khoa học, chuyên gia và cơ quan quản lý, chủ đầu tư cần khẩn trương hoàn thiện Báo cáo đề xuất cấp Giấy phép môi trường, trong đó tập trung làm rõ sự phù hợp của công nghệ với đặc tính rác thực tế, các kịch bản vận hành, kiểm soát khí thải, phân định và quản lý tro bay, tro xỉ, năng lực xử lý nước thải, quan trắc môi trường và phương án ứng phó sự cố.
Nếu được hoàn thiện và tổ chức vận hành đúng yêu cầu, Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt Long Mỹ sử dụng công nghệ đốt rác phát điện được kỳ vọng sẽ giải quyết căn cơ nhu cầu xử lý chất thải sinh hoạt của khu vực phía Đông tỉnh trong nhiều năm tới, tạo ra nguồn năng lượng sạch từ rác thải, giảm áp lực chôn lấp, tiết kiệm tài nguyên đất đai, tạo nguồn năng lượng tái tạo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời, giảm phát thải, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên theo mô hình kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.
  

Nguồn tin: Nguyễn Hà - Chi cục BVMT