Phạm vi quy hoạch vùng bờ bao gồm vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển. Tuy nhiên, để bảo đảm tính vẹn toàn của các hệ sinh thái, sinh cảnh quan trọng và quan tâm đầy đủ đến sự tương tác mạnh giữa đất liền và biển, phạm vi không gian vùng bờ ở một số khu vực được mở rộng hơn cả về phía đất liền và biển. Nội dung phân vùng khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ như sau:
- Các vùng đất ven biển và các hải đảo được sắp xếp, phân bổ theo 4 vùng kinh tế - xã hội: vùng phía Bắc, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ, vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nam bộ. Trong đó, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ được chia thành 03 tiểu vùng: Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ. Nội dung phân vùng khai thác, sử dụng tài nguyên các vùng đất ven biển và các đảo tiểu vùng Nam Trung Bộ có liên quan đến Bình Định như sau: Phát triển các khu du lịch, đô thị du lịch biển có mức độ quốc tế hoá cao, liên kết các cơ sở du lịch biển với các cơ sở du lịch di sản, di tích văn hoá ven biển với trung tâm dịch vụ du lịch ở thành phố Nha Trang, Quy Nhơn và Phan Thiết; Xây dựng cảng biển tổng hợp trung chuyển hàng hoá trong nước, quốc tế và cảng chuyên dụng phục vụ du lịch, quốc phòng với trung tâm là khu cảng biển Vân Phong - Cam Ranh - Quy Nhơn và nghiên cứu phát triển khu Bãi Gốc - Đông Hoà; Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng xuất khẩu, công nghiệp chế biến thuỷ sản, khoáng sản biển tập trung tại các khu kinh tế ven biển trong khu vực; Công nghiệp năng lượng tái tạo tập trung ở Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận, phát triển thành trung tâm công nghiệp năng lượng tái tạo lớn ở ven biển; Phát triển khu kinh tế Nhơn Hội trở thành khu vực phát triển mạnh về kinh tế biển; Nuôi trồng thuỷ sản, thuỷ sinh vật biển ứng dụng công nghệ cao với trung tâm dịch vụ hậu cần phục vụ nghề cá ở Cam Ranh và các trung tâm tập trung hoạt động nghề cá ở Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận;
- Vùng biển ven bờ được sắp xếp, phân bổ theo 04 vùng biển tương ứng 04 vùng kinh tế - xã hội của các vùng đất ven biển và các hải đảo. Việc phân vùng khai thác, sử dụng tài nguyên vùng biển ven bờ được thực hiện trên cơ sở chức năng của các khu vực và nguyên tắc về xử lý chồng lấn theo thứ tự ưu tiên và được phân thành 03 vùng khai thác, sử dụng. Theo đó, đối với vùng biển ven bờ Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ được phân vùng như sau: (1) Khu vực cấm khai thác, sử dụng tài nguyên là khoảng 40 nghìn ha; (2) Khu vực hạn chế khai thác, sử dụng tài nguyên là khoảng 1.850 nghìn ha; (3) Khu vực khuyến khích khai thác, sử dụng tài nguyên là khoảng 2.199 nghìn ha.
Căn cứ quy hoạch được phê duyệt, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan quản lý, kiểm tra, giám sát chặt chẽ các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ theo quy hoạch tại địa phương; rà soát, điều chỉnh quy hoạch cấp tỉnh bảo đảm phù hợp với quy hoạch này; hoàn thành việc công bố, cắm mốc giới hành lang bảo vệ bờ biển; xây dựng và triển khai chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ theo quy định; trình Hội đồng nhân dân cùng cấp bố trí kinh phí thực hiện các nhiệm vụ thuộc quy hoạch theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công./.