Theo đó, Nghị định số 02/2023/NĐ-CP bao gồm 05 chương, 51 điều quy định chi tiết một số khoản và Điều tại Luật Tài nguyên nước, trong đó có quy định việc đăng ký, cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước; thăm dò, khai thác nước dưới đất; Ngoài ra còn một số quy định khác như: tổ chức lưu vực sông và việc điều phối, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông.…
Việc tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tài nguyên nước theo Nghị định có nêu rõ phải đáp ứng các điều kiện như: Đã hoàn thành việc thông báo, lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định; Có đề án, báo cáo phù hợp với quy hoạch về tài nguyên nước, quy hoạch tỉnh, quy định vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, quy hoạch chuyên ngành có liên quan đã được phê duyệt hoặc phù hợp với khả năng nguồn nước nếu chưa có các quy hoạch và quy định vùng hạn chế khai thác nước dưới đất. Đề án, báo cáo phải do tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định lập; thông tin, số liệu sử dụng để lập đề án, báo cáo phải bảo đảm đầy đủ, rõ ràng, chính xác và trung thực…
Quy định thời hạn theo Nghị định số 02/2023/NĐ-CP như đối với: Giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển có thời hạn tối đa là 15 năm, tối thiểu là 05 năm và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn tối thiểu là 03 năm, tối đa là 10 năm. Giấy phép thăm dò nước dưới đất có thời hạn là 02 năm và được xem xét gia hạn 01 lần, thời gian gia hạn không quá 01 năm. Giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất có thời hạn tối đa là 10 năm, tối thiểu là 03 năm và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn tối thiểu là 02 năm, tối đa là 05 năm.
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận đầy đủ, hợp lệ trước ngày Nghị định này có hiệu lực vẫn được thực hiện thẩm định, xem xét cấp phép theo quy định tại Nghị định số 201/2013/NĐ-CP. Hồ sơ tiếp nhận sau ngày Nghị định số 02/2023/NĐ-CP có hiệu lực thì bãi bỏ Nghị định số 201/2013/NĐ-CP và được cơ quan có thẩm quyền thực hiện tiếp nhận, thẩm định, xem xét cấp phép theo Nghị định 02/2023/NĐ-CP.
Ngoài ra, các khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất theo quy định tại Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường mà các tỉnh, thành phố đã ban hành quyết định phê duyệt thì tiếp tục thực hiện đăng ký theo quyết định đã phê duyệt, thời gian sau đó được cập nhật điều chỉnh theo Nghị định số 02/2023/NĐ-CP.